|
Tại
trung tâm được hình thành bao gồm : một hệ thống mạng máy tính nối mạng
cục bộ có nhiệm vụ điều khiển, kiểm soát và quản lý đến từng điểm sáng
ngoài trung tâm tại mọi thời điểm của hệ thống khi thực hiện chức năng
điều khiển. Hệ thống mạng cục bộ tại trung tâm được kết nối điều khiển
đến từng phân vùng quản lý của hệ thống chiếu sáng hiện hữu thông qua
đường truyền tải Internet.
- Đường truyền tải Internet của hệ thống được sử dụng 2 công nghệ truyền tải thông qua đường dây điện thoại :
· Sử dụng công nghệ ADSL ( Asymmetric Digital Subscriber Line ) –
Đường thuê bao kỹ thuật số không đối xứng – Đường truyền công nghệ này
dùng cho những phân vùng điều khiển có đường truyền ADSL – Phân vùng
bao gồm các quận 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7…
· Sử dụng đường truyền điện thoại thông thườngđể thực hiện quay số
và kết nối với hệ thống điều khiển – Đường truyền công nghệ này sử dụng
cho phân vùng điều khiển không có đường truyền ADSL. Phân vùng Huyện
Cần Giờ, nếu trong thời gian thi công Huyện Cần Giờ có đường truyền
ADSL, thì sẽ đổi tủ điều khiển khu vực sử dụng công nghệ truyền tải
bằng ADSL .
|
- Tại các phân vùng điều khiển hệ thống chiếu sáng ngoài trung tâm :
Tại
mỗi phân vùng điều khiển của hệ thống chiếu sáng hiện hữu được hình
thành cấu trúc điều khiển gồm : 1 tủ khu vực cho phân vùng khu vực (
ITD hoặc ETD ); ITD được sử dụng theo đường truyền tải Internet sử dụng
công nghệ ADSL và ETD được sử dụng theo đường truyền điện thoại thông
thường có chức năng nhận lệnh, điều khiển từ trung tâm chuyển đến địa
chỉ của đơn vị điều khiển cục bộ ( viết tắt là UCL ) và nhận thông tin
của UCL chuyển về trung tâm. UCL có chức năng nhận lệnh từ tủ khu vực
để truyền tải lệnh đến các đơn vị điều khiển đèn ( viết tắt là UDC ) và
ghi nhận những thông tin của UDC chuyển về cho tủ điều khiển khu vực.
Hệ thống truyền tải thông tin tại khu vực sử dụng đường truyền tải điện
chiếu sáng hiện hữu, sử dụng công nghệ truyền tin PLC ( Power Line
Carrier – Dùng sóng điện lực 50Hz làm sóng mang truyền tin ). Giữa các
UCL được kết nối với nhau thông qua đơn vị kết nối điện từ ( viết tắt
là DCM ) hoặc đơn vị kết nối vô tuyến ( viết tắt là UTR ). ( DCM dùng
cho những nơi có thể kéo lưới chiếu sáng giáp với nhau, UTR dùng cho
những nơi không thể kéo cáp giáp lưới với nhau ).
Với giải pháp kỹ thuật- công nghệ trên thành phố Hồ Chí Minh sẽ có
một hệ thống điều khiển trung tâm hiện đại cho biết tình trạng chiếu
sáng công cộng mọi lúc mọi nơi, có được những thông tin của hệ thống
nhằm thiết lập cách thức tổ chức để đối phó hữu hiệu với các sự cố, các
vấn đề. Trong lĩnh vực chiếu sáng công cộng cũng như trên các lĩnh vực
khác, quản lý tốt hoàn toàn nhờ vào thông tin chính xác, kịp thời và
đầy đủ.
Hệ thống được đề nghị trên đây là hệ thống duy nhất trên thế giới giúp
biết được chính xác về tình trạng của chiếu sáng công cộng của từng
điểm chiếu sáng tại mọi thời điểm.
Ngoài những lợi ích kinh tế trực tiếp thu được do tiết kiệm điện năng,
tiết kiệm trong quản lý duy tu bảo dưỡng, … hệ thống điều khiển trung
tâm này làm tăng chất lượng dịch vụ quản lý hệ thống chiếu sáng công
cộng. Điều này đặc biệt quan trọng do xu hướng hiện nay trên thế giới
chiếu sáng công cộng đã trở thành một tiêu chí của chất lượng cuộc sống
đô thị, đặc biệt ở các quốc gia nhiệt đới nơi mà cuộc sống về đêm được
xem là quan trọng.
Đây còn là một phần hình ảnh của thành phố (ví như :" Paris - kinh đô
ánh sáng") và thu hút đông đảo khách du lịch. Chiếu sáng công cộng yếu
kém, kéo theo một ngưng trệ về du lịch vì lý do an ninh. Chiếu sáng
linh động, tạo nên nhiều địa điểm vui chơi cho cuộc sống ban đêm, tạo
nét thu hút của thành phố, tăng giá trị và sự sung túc cho các khu phố.
Cảm giác tương đối mới mẻ này phát triển ngày càng nhiều trên thế giới.
Kỷ nguyên của truyền thông, truyền hình và những tiện nghi đi lại cho
phép con người biết được các thành phố khác, để có sự so sánh và yêu
cầu cao hơn đối với thành phố của mình. Đa số các khu dân cư đã nhận
biết và đã phát động những chương trình ánh sáng.
Khái quát hơn với hệ thống điều khiển trung tâm này những nhà quản lý
chiếu sáng công cộng có phương tiện để điều khiển quản lý tốt hệ thống
chiếu sáng để đạt được mục đích là cung cấp chất lượng chiếu sáng ở mức
cao nhất cùng với một giá cả thấp nhất có thể được.
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ :
Hiệu quả đầu tư thể hiện qua hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả quản lý và hiệu quả kinh tế.
1. HIỆU QUẢ KỸ THUẬT:
Giải pháp kỹ thuật được lựa chọn ở trên sẽ mang lại một chuẩn
kỹ thuật mới trong lĩnh vực chiếu sáng công cộng ở Việt Nam : chiếu
sáng từ xa và điều hành từ xa. Chuẩn kỹ thuật này dựa trên cơ sở nối
mạng đưa số liệu từ các thiết bị của hệ thống chiếu sáng về Trung tâm
và từ Trung tâm có thể điều hành tới từng điểm sáng của hệ thống.
Một kỹ thuật mới được sử dụng trong dự án này là việc truyền thông tin
trên mạng lưới chiếu sáng hạ thế với tần số sóng mang khác. Như vậy sẽ
tiết kiệm khi không phải đi cáp thông tin, không phải đào đường lắp
đặt.
Quá trình làm việc của hệ thống có thể tóm tắt như sau : 
- Trung tâm ghi nhận, xử lý những thông tin ( như qua photocell, giờ
thực, dự báo thời tiết khu vực, những sự kiện, lễ hội diễn ra tại các
khu vực ).
- Sau đó Trung tâm ra lệnh điều khiển hệ thống ( tới từng đèn, từng tủ điều khiển khu vực ) như chế độ tắt mở, chế độ tiết giảm.
- Đồng thời Trung tâm cũng luôn thu thập số liệu kỹ thuật để kiểm tra
tình trạng hoạt động của hệ thống và đưa ra những báo động nếu xuất
hiện sự cố.
Việc áp dụng kỹ thuật mới này sẽ giúp hệ thống hoạt động hiệu
quả trên cơ sở các thông tin thu thập và các hành động đưa ra nhanh
chóng và chính xác.
- Tính nhanh chóng : Hệ thống hoạt động càng hiệu quả nếu tốc độ thu
thập thông tin và tốc độ ra hành động phản ứng càng nhanh. Ở mạng điều
khiển, việc thu thập thông tin trong hệ thống chiếu sáng và điều khiển
diễn ra với tốc độ truyền điện.
- Tính chính xác : Vì công tác thu thập thông tin do máy móc ghi nhận
nên chính xác và khách quan. Ngoài ra người điều khiển hệ thống tại
trung tâm trực tiếp theo dõi thông tin, xử lý thông tin nên ra quyết
định đúng đắn hơn.
Ví dụ : hiện nay nếu như một tuyến đường bị sự cố sáng ngày
hay tắt ban đêm phải mất một thời gian đến lúc có thông tin về Cty
Chiếu sáng công cộng từ đội tuần tra giám sát, từ các đội duy tu, từ
dân cư thì việc sửa chữa mới bắt đầu được (chưa kể độ chính xác của
thông tin, chất lượng của thông tin…). Với kỹ thuật mới thì Trung tâm
sẽ được báo động qua mạng và việc ngắt nguồn chiếu sáng tại tủ điều
khiển sẽ tiến hành ngay trong vòng vài phút. Sau đó việc sửa chữa sẽ
được tiến hành ngay, nhanh đến mức dân cư có thể cũng không nhận biết.
Ngoài ra chúng ta còn chủ động sửa chữa những nhóm thiết bị đã gần hư
trên cơ sở tập hợp được từ việc thống kê lý lịch thiết bị.
2. HIỆU QUẢ QUẢN LÝ :
Không chỉ về mặt kỹ thuật mà về mặt quản lý cũng sẽ có một bước tiến lớn do số liệu quản lý luôn được cập nhật tự động :
- Quản lý theo từng đối tượng riêng lẻ.
- Quản lý chính xác lượng điện năng tiêu thụ để so sánh với hóa đơn tiền điện của Điện lực.
- Ra những báo cáo đột xuất hay thường kỳ cho những sửa chữa đột
xuất, những kế hoạch duy tu bảo dưỡng, số liệu quản lý được cập nhật
hay quản lý vật tư tồn kho.
- Đặc biệt nhất là quản lý chính xác tuổi thọ của từng thiết bị để ta có chiến lược phát triển hợp lý và hiệu quả.
3. HIỆU QUẢ KINH TẾ :
Dự án sau khi được triển khai áp dụng sẽ mang lại những hiệu quả kinh
tế- tài chính thể hiện trong các khoản tiết kiệm. Các khoản tiết kiệm
đó là tiết kiệm trong đầu tư, tiết kiệm điện năng tiêu thụ và tiết kiệm
trong công tác bảo trì hệ thống. Trước khi đi vào phân tích chi tiết
các khoản tiết kiệm ta điểm qua vài số liệu cần thiết :
4. TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG :
- Do kiểm soát độ rọi linh hoạt theo nhu cầu nên giảm thiểu nhiều sự ô nhiễm sáng vào môi trường thiên nhiên.
- Ngoài ra, nhờ vào việc kiểm soát được độ sáng của đèn, công suất
tiêu thụ làm giảm phần năng lượng tỏa ra môi trường xung quanh gây nên
hiệu ứng nhà kính. |