Theo báo cáo “Lưới điện thông minh- Đánh giá những lợi ích về năng lượng và CO2” của Phòng thí nghiệm quốc gia Tây Bắc Thái Bình Dương (PNNL) thuộc Bộ Năng lượng Hoa Kỳ, đến năm 2030, có thể làm giảm ít nhất 12% mức sử dụng điện năng và phát thải cácbon hàng năm trong lĩnh vực sản xuất điện.
Báo cáo cho thấy các chức năng khác nhau của lưới điện thông minh có thể làm giảm đáng kể mức sử dụng năng lượng và phát thải cácbon – lợi ích trực tiếp nhờ sử dụng công nghệ mới và lợi ích gián tiếp là nhờ các chương trình sản xuất năng lượng tái tạo và hiệu suất năng lượng cao và tiềm năng hơn.
Việc sử dụng toàn bộ lưới điện thông minh, Hoa Kỳ có thể giảm lượng phát thải khoảng 442 triệu tấn CO2 tương đương với lượng phát thải của 66 nhà máy điện đốt than thải vào khí quyển mỗi năm. Trong đó, 66 nhà máy này sản xuất điện này có thể cung cấp điện cho 70 triệu gia đình hiện nay.
Theo Giám đốc Phòng thí nghiệm về Năng lượng và Môi trường của PNNL, Báo cáo này có nhiều liên quan đến các quyền lợi trong lĩnh vực chung và tư nhân, hứa hẹn sẽ đưa ra các quyết định về nghiên cứu, tài chính và chính sách tương lai trong lĩnh vực này. Việc giảm phụ thuộc vào việc nhập khẩu dầu ở nước ngoài và giảm dấu chân cácbon có mối liên quan chặt chẽ với nhau và sẽ mang lại nhiều lợi ích.
Báo cáo phân tích 9 biện pháp và cơ chế khác nhau, lưới điện thông minh có thể làm giảm phát thải cácbon, đưa ra những kế hoạch cho tương lai và nghiên cứu thêm về lĩnh vực này để hoàn thành mục tiêu của Chính phủ về việc giảm đáng kể phát thải vào năm 2030.
Tầm quan trọng của các cơ chế giảm trực tiếp và gián tiếp là tác động kết hợp của chúng trong việc giảm phát thải cácbon. Một số cơ chế được chứng minh không quan trọng, một số cơ chế quy mô hơn có khả năng làm giảm khoảng 3% phát thải. Hơn nữa, chúng có thể làm giảm hơn 12% dấu chân cácbon trong lưới điện
PNNL đã đưa ra một số kiến nghị bao gồm, phân tích sâu hơn một số khía cạnh kỹ thuật của các cơ chế, nghiên cứu sâu các cơ chế liên quan đến hành vi như phản hồi thông tin của người tiêu dùng, đánh giá khả năng bất ổn định trong việc giảm phát thải, phân tích và điều chỉnh các biện pháp tốt hơn để đánh giá khả năng của mỗi cơ chế.