Nghiên cứu các nguồn nguyên vật liệu tại chỗ để sử dụng trong xây dựng nhà máy điện hạt nhân là hết sức cấp bách và cần thiết.
Tóm tắt:
Trong thiên nhiên không tồn tại loại vật liệu tự nhiên nào có thể đáp
ứng đầy đủ tất cả các yêu cầu cần để chế tạo kết cấu bảo vệ sinh học,
cần sử dụng các vật liệu nhân tạo, trong đó bê tông chiếm một tải trọng
cao được sử dụng trong xây dựng nhà máy điện hạt nhân. Đề tài này nhằm
cung cấp những cơ sở khoa học ban đầu về vữa và bê tông cản phóng xạ,
mà trong tương lai sẽ rất cần để xây dựng các kết cấu bao che, cản
phóng xạ trong các công trình có sử dụng các thiết bị hoặc lò phản ứng
hạt nhân.
1. Ðặt vấn đề
Bê tông cản
phóng xạ cũng như các loại bê tông nặng khác, ngoài các tính chất cơ
bản như cường độ, độ đồng nhất, tính công tác, để làm suy yếu dòng
phóng xạ đi qua chúng cần có khối lượng thể tích lớn và cấu trúc đặc
chắc. Cấp phối bê tông được thiết kế theo phương pháp thể tích tuyệt
đối. Loại bê tông đặc biệt nặng được thiết kế phải đảm bảo có khối
lượng thể tích lớn(γo>2500kg/m3), đạt cường độ yêu cầu (Rn > 200
kG/cm2), có độ linh động phù hợp để thi công các kết cấu bê tông cốt
thép có mật độ cốt thép đến 1%: SN = 4 - 8 cm
2. Ảnh hưởng phụ gia siêu dẻo đến cường độ của bê tông cản xạ

Biểu đồ so sánh cường độ của bê tông quặng sắt có phụ gia NN và không có phụ gia

Biểu đồ so sánh cường độ của bê tông quặng sắt barit Nghệ An có phụ gia NN và không có phụ gia

Biểu đồ phát triển cường độ nén bê tông quặng barit Tuyên Quang M300 theo thời gian

Ảnh hưởng của phụ gia Sika NN đến cường độ của bê tông

Biểu đồ cường độ nén theo thời gian của bê tông Xuân Mai M300

Biểu đồ cường độ nén theo thời gian của bê tông Xuân Mai M300 có 300% BT
3. Cấu trúc của bê tông cản xạ
Khảo
sát vi cấu trúc đá xi măng bằng phương pháp chiếu xạ tia X trên thiết
bị chiếu xạ tia X có nhãn hiệu XDA-D8 Advance do hãng Bruker Cộng hòa
liên bang Ðức chế tạo có ống tia X công suất 40kV, 40mA, điện cực đồng
bước sóng λ=1,5406A0. Mẫu được tiến hành thử tại phòng Trầm tích, Viện
Dầu khí Việt Nam. Khảo sát vi cấu trúc đá xi măng bằng phương pháp chụp
ảnh hiển vi điện tử quét trên thiết bị hiển vi điện tử quét có nhãn
hiệu JSM-5600 do Nhật Bản chế tạo, mẫu được tiến hành thử tại phòng
Trầm tích, Viện Dầu khí Việt Nam. Mẫu bê tông thử ở tuổi 28 ngày thủy
hoá. Kết quả cho thấy trên hình 10 sự sắp xếp cấu trúc bê tông quặng
sắt rất đặc chắc. Tuy nhiên trong bản thân cấu trúc của đá xi măng chưa
đặc chắc, có những lỗ rỗng nhỏ ăn thông nhau tồn tại trong cấu trúc của
đá xi măng Khi xem hình ảnh phóng đại của mẫu bê tông cốt liệu barit
thấy rằng sự sắp xếp giữa các hạt cốt liệu cũng như với đá xi măng là
rất chặt chẽ. Các hạt cốt liệu lớn (đá), cốt liệu nhỏ (cát) đều được
bao bọc cũng như chèn đầy khe rỗng giữa chúng bằng đá xi măng. Ở đây
cũng thấy được rằng cấu trúc của đá xi măng rất đặc chắc. Lượng lỗ rỗng
trong cấu trúc của đá bê tông cốt liệu quặng barit là nhỏ, không ăn
thông nhau (hình 11, 12) Mặt khác qua phân tích Rơnghen các mẫu bê tông
ta thấy, ngoài sự hiện diện của khoáng quặng còn có khoáng quatz và các
khoáng là sản phẩm thủy hoá của khoáng xi măng với nước dưới dạng các
hyđrosilicatcanxi (CSH), Hyđrô Aluminat Canxi (C3AH6), Hyđrô Ferit
Canxi (C3FH), Hyđrôxit Canxi (Ca(OH)2). Tuy nhiên không thấy có sự xuất
hiện của khoáng Etringite (C3A.CaSO4.31H2O) loại khoáng bành trướng thể
tích phá hoại cấu trúc đá xi măng.

Hình
ảnh cấu trúc bê tông quặng sắt khảo sát bằng kính hiển vi điện tử quét
SEM với độ phóng đại a, 5500 và b, 11000 lần ở tuổi 28 ngày

Bê tông quặng barit Nghệ An khi phóng lên a, 900 lần b, 2500 lần

Cấu trúc bề mặt bê tông barit Tuyên Quang M400 7 ngày khi phóng đại 2700 lần

Cấu trúc bề mặt bê tông barit Tuyên Quang M400 28 ngày khi phóng đại 2700 lần

Cấu trúc bề mặt bê tông barit Tuyên Quang M400 7 ngày khi phóng đại 2700 lần

Cấu trúc bề mặt bê tông barit Tuyên Quang M400 28 ngày khi phóng đại 2700 lần
Xaydungvietnam.vn - theo TS.TRẦN NGỌC TÍNH/ Ashui.com